7 thg 12, 2017

Người Do Thái (2)





Vì sao người Do Thái vốn thông minh nhưng phải sống lang bạt suốt 2.000 năm?
Là dân tộc thông minh nhất và là cái nôi sản sinh ra nhiều danh nhân cho thế giới, tuy nhiên tộc người Do Thái phải sống lưu vong, lang bạt khắp nơi trong suốt hơn 2.000 năm. Vậy nguyên nhân nào cho sự bất hạnh này?

Người Do Thái phải ly biệt quê hương, sống lang bạt suốt 2.000 năm. (Ảnh: Internet)
Theo các tài liệu ghi chép lại, tộc người Do Thái đã có trên địa cầu với lịch sử 4.000 năm, người Do Thái cũng là người thông minh nhất thế giới. Nhưng mà, trong hơn 2.000 năm, người Do Thái phải ly biệt quê hương và phải sống lưu vong, lang bạt khắp mọi nơi trên thế giới. Mãi đến năm 1947, khi Thế chiến II chấm dứt, người Do Thái mới trở về đất nước của mình.
Một tộc người vốn thông minh như vậy, vì sao phải sống lưu vong, lang bạt suốt hơn 2.000 năm? Đây là một câu hỏi lớn. Và nhiều năm trôi qua, lịch sử đã trả lời tất cả, cuối cùng, người ta đã thấu tỏ nguyên nhân sâu xa của sự bất hạnh này. Nó liên quan đến việc Chúa Jesus sinh ra trong một gia đình Do Thái và bị hãm hại.
Khoảng 2.000 năm trước, tiếp sau Phật Thích Ca Mâu Ni, Lão Tử, Khổng Tử hạ thế độ nhân, ở Belem gần Jerusalem, Chúa Jesus là Con Thiên Chúa được sinh ra tại chuồng bò của một gia đình người Do Thái làm nghề thợ mộc. Theo Kinh Thánh, Jesus đã cùng các môn đồ đi khắp xứ Galilea để giảng dạy và chữa bệnh. Cung cách giảng dạy mang uy lực cùng với kỹ năng diễn thuyết điêu luyện, Jesus sử dụng các dụ ngôn để giảng dạy quan điểm về tình yêu thương nên đã thu hút rất nhiều người. Họ tụ họp thành đám đông và tìm đến bất cứ nơi nào Jesus có mặt.
Mặc dù Chúa Jesus đi khắp thế gian để truyền bá chân lý, đồng thời triển hiện rất nhiều thần tích, nhưng con người vốn trong mê nên vẫn có rất ít người tin tưởng. Mặc dù Ngài ở thế nhân để gánh chịu hết thảy tội lỗi cho chúng sinh, nhưng lại luôn phải đối diện với sự cười nhạo, ghen tị, phỉ báng… cuối cùng Ngài bị đóng đinh trên Thập tự giá.
Đối với tộc người Do Thái, xuất hiện một vị Thánh nhân có ảnh hưởng đến toàn hân loại như vậy, đây là một việc đáng vinh dự và tự hào. Vốn dĩ, họ sẽ có được phúc báo to lớn bởi sự ban ân này. Tuy nhiên, sự thật lại hoàn toàn ngược lại. Người Do Thái đã phản bội ân đức này của Thượng Đế, họ đã đem người cứu độ họ đóng đinh lên cây thập tự.
Ngày Chúa Jesus bị hãm hại, mặc dù người trực tiếp phạm tội là số ít, nhưng số người vô tri tham dự lại rất nhiều. Những người hả hê, những người qua đường thờ ơ lãnh đạm, cả hai đều được coi là đồng lõa với tội ác.
Con người bất kính đối với Thiên Chúa, hơn nữa còn đóng đinh Chúa trên cây thập tự, đây chính là tội lỗi vô cùng to lớn. Bởi vậy, trọng tội này phải trả giá bằng nỗi bất hạnh trong suốt hơn 2.000 năm của cả một tộc người.
Có người từng nói, lịch sử là một tấm gương phản chiếu. Vậy từ 2.000 năm lịch sử phản chiếu lên tấm gương này, chúng ta thấy được gì đây? Phải trái, thiện ác rõ ràng đang ở trước mặt để chúng ta lựa chọn
Trong khi sự thật bị bóp méo, chính nghĩa bị giày xéo, người thiện lương bị bức hại, chúng ta lẽ nào vẫn lánh mặt làm ngơ? Bởi khi bàng quan thờ ơ, điều này có nghĩa là chúng ta đã vô tình trở thành đồng lõa, trợ giúp cho cái ác.
Dựa theo quy luật nhân quả, trên thế giới này bất luận ai làm điều gì, thì hậu quả đều là phải chính bản thân người đó gánh chịu, đó chính là Thiên lý.
Cái giá của sự thờ ơ quả thực cũng không kém phần tàn khốc, bởi thờ ơ chính là đang rời xa và vứt bỏ lòng tốt. Bài học của người Do Thái, hy vọng hôm nay sẽ giúp bạn soi lại mình qua tấm gương của lịch sử



30 thg 11, 2017

Nhớ bạn


                                 
                                Tặng c nhà thơ Ngọc San
Nắng chiều bàng bạc tóc phai sương
                                                     Lững thững đưa chân những khuỷu đường
                                                     Dời tỉnh dời tình dời phố thị
                                                     Với ao với ảo với lư hương
                                                    Thơ đầy ba bị văn phong lạ
                                                    Rượu đủ năm be tửu sắc thường
                                                    Theo chí người xưa về ẩn dật
                                                    Chất Thành le lói ánh Tà dương ! 

 


23 thg 11, 2017

Hoài khúc Tháng Mười



Vén ngày lên ngóng vầng mây tím
Bước heo may hoàng hôn vội theo về
Lúa ngoài nội đơm hương ngọt lịm
Trăng bỗng mượt lòng khúc rơm rạ làng quê


16 thg 11, 2017

Người Do Thái (1)



Vì sao người Do Thái phiêu bạt khắp nơi nhưng không ai chấp nhận làm ăn mày?
Trong suốt hơn 2000 năm, người Do Thái đã phải sống cuộc sống lang bạt khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, dù đi đến đâu, dân tộc này cũng đều thể hiện được sự xuất chúng, và cũng là dân tộc duy nhất không có người ăn mày.

Người Do Thái được cho là dân tộc thông minh nhất thế giới, với khả năng sáng tạo không ngừng. (Ảnh: Coviet)
Người Do Thái cho rằng: Người thầy vĩ đại hơn cả Quốc vương. Họ vô cùng kính trọng giáo viên. Dựa vào học tập, tri thức và sách vở, người Do Thái dù lang thang ở bất kể nơi đâu họ cũng đều có thể sinh tồn, hơn nữa còn phát triển mạnh mẽ.
Người Do Thái là một dân tộc có tín ngưỡng tôn giáo mạnh mẽ. Họ coi học tập là một phần của tín ngưỡng, học tập là một hình thức thể hiện sự tôn kính của mình đối với Thượng đế. Mỗi người Do Thái đều cần phải đọc sách.
Talmud chính là nguồn gốc trí tuệ của người Do Thái. Talmud có nghĩa là “nghiên cứu” hoặc “nghiên cứu và học tập”. Talmud cho rằng: “Học tập là thứ giúp hành vi hướng thiện, là nguồn gốc của đức hạnh. Sự thành kính, lương thiện, ôn hòa, ưu nhã của một người đều là dựa vào kết quả của giáo dục”.
Người Do Thái coi sách là bảo bối của cả đời. Giá sách không được đặt ở đầu giường hay cuối giường nếu không sẽ bị coi là bất kính với sách.
“Trí tuệ quan trọng hơn tri thức”. Như thế nào là tri thức? Tri thức chính là thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật. Còn trí tuệ là đem thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật tiến hành tổng hợp ra một phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề.
Đối với con người, quan trọng nhất là cái gì? Là đến từ trí tuệ, mà trí tuệ lại đến từ tri thức.
Mục đích của đọc sách là để mở rộng tri thức, sau khi đã chuẩn bị được nguồn tri thức phong phú, bạn sẽ học được cách suy xét. Bạn sẽ minh bạch được đạo lý làm người hoặc là sẽ tìm được cách thức giải quyết vấn đề. Đây chính là trí tuệ! Vì vậy, trí tuệ đến từ tri thức và quan trọng hơn tri thức!

Chỉ có tri thức là tài phú quan trọng nhất, là tài sản có thể mang theo bên mình và còn cả đời có thể hưởng dụng. (Ảnh: Independent)
Người Do Thái ủng hộ sáng tạo cái mới. Họ cho rằng, việc sáng tạo ra cái mới chính là trí tuệ, phải dám hoài nghi, dám đặt câu hỏi bất cứ lúc nào, bởi vì tri thức càng nhiều sẽ càng sản sinh ra sự hoài nghi.
Người Trung Quốc thường hỏi con cái khi chúng tan trường là: “Hôm nay con làm bài thế nào?”. Còn người Do Thái sẽ hỏi con: “Hôm nay con có đưa ra câu hỏi nào không? Hôm nay con có gì khác hôm qua không?”.
Người Do Thái cho rằng, thông qua học tập mọi người có thể nhận thức chính mình và siêu việt chính mình.
Cách giáo dục của người Do Thái bao gồm cả đóng và mở. Đối với nội bộ người Do Thái là cởi mở, còn đối với bên ngoài là đóng kín, để duy trì sự cạnh tranh sinh tồn của người Do Thái.
Talmud là Kinh thánh chuẩn, trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 6, người Do Thái đã vận dụng nó 500 năm. Hơn 2000 giáo sĩ Do Thái và các nhà khoa học đã biên soạn ra cuốn sách quý này. Nó là bảo bối sinh tồn của người Do Thái.
Trên thế giới, dân tộc Do Thái là dân tộc hiểu nhất về nghệ thuật của giáo dục. Có thể nói, người Do Thái là dân tộc thành công nhất về giáo dục.
Người Do Thái cho rằng giáo dục có thể cải biến đời người, số mệnh, cải biến hết thảy. Vì vậy, trong hơn 2000 năm lang bạt trong lịch sử, hết thảy mọi thứ của họ đều bị cướp đoạt hết chỉ có sách và tri thức là không thể bị cướp mất.
Người Do Thái vô cùng coi trọng giáo dục, tri thức và sách. Chỉ có tri thức là tài phú quan trọng nhất, là tài sản có thể mang theo bên mình và còn cả đời có thể hưởng dụng.
Vì thế, người Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới xóa mù chữ. Từ trước năm 1947, ngay cả một mảnh đất lãnh thổ cũng không có. Thế nhưng, trong thời kỳ trung cổ, người Do Thái đã xóa mù chữ, vì vậy tố chất chỉnh thể của dân tộc này cao hơn của các dân tộc khác một bậc.
Dù với dân số ít ỏi, nhưng Do Thái là dân tộc đã giành được rất nhiều giải thưởng Nobel, với 169 người, chiếm 17,7% tổng số người giành được giải thưởng này của cả thế giới.          Chính những yếu tố này đã khiến cho người dân Do Thái dù phải phiêu bạt khắp thế giới hơn 2000 năm, nhưng lại là một nước duy nhất trên thế giới không có ăn mày