16 thg 11, 2017

Người Do Thái (1)



Vì sao người Do Thái phiêu bạt khắp nơi nhưng không ai chấp nhận làm ăn mày?
Trong suốt hơn 2000 năm, người Do Thái đã phải sống cuộc sống lang bạt khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, dù đi đến đâu, dân tộc này cũng đều thể hiện được sự xuất chúng, và cũng là dân tộc duy nhất không có người ăn mày.

Người Do Thái được cho là dân tộc thông minh nhất thế giới, với khả năng sáng tạo không ngừng. (Ảnh: Coviet)
Người Do Thái cho rằng: Người thầy vĩ đại hơn cả Quốc vương. Họ vô cùng kính trọng giáo viên. Dựa vào học tập, tri thức và sách vở, người Do Thái dù lang thang ở bất kể nơi đâu họ cũng đều có thể sinh tồn, hơn nữa còn phát triển mạnh mẽ.
Người Do Thái là một dân tộc có tín ngưỡng tôn giáo mạnh mẽ. Họ coi học tập là một phần của tín ngưỡng, học tập là một hình thức thể hiện sự tôn kính của mình đối với Thượng đế. Mỗi người Do Thái đều cần phải đọc sách.
Talmud chính là nguồn gốc trí tuệ của người Do Thái. Talmud có nghĩa là “nghiên cứu” hoặc “nghiên cứu và học tập”. Talmud cho rằng: “Học tập là thứ giúp hành vi hướng thiện, là nguồn gốc của đức hạnh. Sự thành kính, lương thiện, ôn hòa, ưu nhã của một người đều là dựa vào kết quả của giáo dục”.
Người Do Thái coi sách là bảo bối của cả đời. Giá sách không được đặt ở đầu giường hay cuối giường nếu không sẽ bị coi là bất kính với sách.
“Trí tuệ quan trọng hơn tri thức”. Như thế nào là tri thức? Tri thức chính là thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật. Còn trí tuệ là đem thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật tiến hành tổng hợp ra một phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề.
Đối với con người, quan trọng nhất là cái gì? Là đến từ trí tuệ, mà trí tuệ lại đến từ tri thức.
Mục đích của đọc sách là để mở rộng tri thức, sau khi đã chuẩn bị được nguồn tri thức phong phú, bạn sẽ học được cách suy xét. Bạn sẽ minh bạch được đạo lý làm người hoặc là sẽ tìm được cách thức giải quyết vấn đề. Đây chính là trí tuệ! Vì vậy, trí tuệ đến từ tri thức và quan trọng hơn tri thức!

Chỉ có tri thức là tài phú quan trọng nhất, là tài sản có thể mang theo bên mình và còn cả đời có thể hưởng dụng. (Ảnh: Independent)
Người Do Thái ủng hộ sáng tạo cái mới. Họ cho rằng, việc sáng tạo ra cái mới chính là trí tuệ, phải dám hoài nghi, dám đặt câu hỏi bất cứ lúc nào, bởi vì tri thức càng nhiều sẽ càng sản sinh ra sự hoài nghi.
Người Trung Quốc thường hỏi con cái khi chúng tan trường là: “Hôm nay con làm bài thế nào?”. Còn người Do Thái sẽ hỏi con: “Hôm nay con có đưa ra câu hỏi nào không? Hôm nay con có gì khác hôm qua không?”.
Người Do Thái cho rằng, thông qua học tập mọi người có thể nhận thức chính mình và siêu việt chính mình.
Cách giáo dục của người Do Thái bao gồm cả đóng và mở. Đối với nội bộ người Do Thái là cởi mở, còn đối với bên ngoài là đóng kín, để duy trì sự cạnh tranh sinh tồn của người Do Thái.
Talmud là Kinh thánh chuẩn, trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 6, người Do Thái đã vận dụng nó 500 năm. Hơn 2000 giáo sĩ Do Thái và các nhà khoa học đã biên soạn ra cuốn sách quý này. Nó là bảo bối sinh tồn của người Do Thái.
Trên thế giới, dân tộc Do Thái là dân tộc hiểu nhất về nghệ thuật của giáo dục. Có thể nói, người Do Thái là dân tộc thành công nhất về giáo dục.
Người Do Thái cho rằng giáo dục có thể cải biến đời người, số mệnh, cải biến hết thảy. Vì vậy, trong hơn 2000 năm lang bạt trong lịch sử, hết thảy mọi thứ của họ đều bị cướp đoạt hết chỉ có sách và tri thức là không thể bị cướp mất.
Người Do Thái vô cùng coi trọng giáo dục, tri thức và sách. Chỉ có tri thức là tài phú quan trọng nhất, là tài sản có thể mang theo bên mình và còn cả đời có thể hưởng dụng.
Vì thế, người Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới xóa mù chữ. Từ trước năm 1947, ngay cả một mảnh đất lãnh thổ cũng không có. Thế nhưng, trong thời kỳ trung cổ, người Do Thái đã xóa mù chữ, vì vậy tố chất chỉnh thể của dân tộc này cao hơn của các dân tộc khác một bậc.
Dù với dân số ít ỏi, nhưng Do Thái là dân tộc đã giành được rất nhiều giải thưởng Nobel, với 169 người, chiếm 17,7% tổng số người giành được giải thưởng này của cả thế giới.          Chính những yếu tố này đã khiến cho người dân Do Thái dù phải phiêu bạt khắp thế giới hơn 2000 năm, nhưng lại là một nước duy nhất trên thế giới không có ăn mày

 


9 thg 11, 2017

Truyện xưa kể tiếp


Khải hoàn khúc âm vang  dậy đất
Bóng Tinh kỳ phần phật đài cao
Tưng bừng tướng thưởng quân khao
Sơn Tinh gác kiếm treo bào thảnh thơi

Hàng phẩm trật nom người cắt đặt
Sự quân cơ lựa mặt bố bài
Qua rồi nếm mật nằm gai
Thù trong như ổn giặc ngoài tạm yên

Với xã tắc giữ nghiêm luật nước
Trong tộc gia dụng chước luân thường
Lấy đạo Người để làm gương
Những mong thiên hạ muôn phương thái hòa

Vương đâu nghĩ việc ra nông nỗi
Chiếu ban rồi đổ dội biển sông
Quan thì tham đến tanh lòng
Dân thì dan díu với dòng dân gian
                            
Rừng đầu nguồn phá tan phá nát
Đá trên mom hết bạt lại đào
Ngước lên vòi vọi giời cao
Giời không nói lũ giăng sao khẩy cười

Thủy Tinh rõ mười mươi sự việc
Triệu bá quan mở tiệc luận triều
Sớ tâu rành rẽ mọi điều
Vương gieo ấn quyết mở chiêu phản đòn

Sai Vũ Thần mưa dồn nước dập
Khiến Phong Quân bão thấp giông cao
Quyết cho nhà cửa lật nhào
Quyết cho đất sạt đá nhào giương oai

Sơn Tinh trót tay quai miệng trễ
Việc vi hành bỏ bễ bấy lâu
Trên ngai bứt tóc vò đầu
Hội triều ban kế dài lâu trị vì
 


2 thg 11, 2017

"Em là đôi mắt"-Tập thơ lục bát cua Nguyễn Việt Anh

                                                            Nguyễn Việt Anh





          Năm 2014, khi nhà thơ khiếm thị Nguyễn Việt Anh in tập thơ lục bát ( mỗi bài chỉ 4câu), tôi đã viết bài khen nhan đề : “ Mặt trời khiếm thị vào thơ”
Nay, Nguyễn Việt Anh lại gửi tặng tôi tập thơ lục bát 4 câu có nhan đề : “ Em là đôi mắt” ( NXB Hội Nhà văn 2016). Tôi đọc và rất thích tập thơ này.
Xin trích bài “Lưu lạc” :
               Nào đâu cứ phải bôn ba
               Chỉ cần ở lại ngôi nhà thân yêu
               Vào ra sớm sớm chiều chiều
               Dủ lưu lạc giữa bao nhiêu nẻo đường  (Trang 51)
 Nên nhớ tác giả bài thơ trên là một người mù. Anh đi đâu cũng cần phải có cây gậy hay người khác dẫn đường. Nhà thơ nhìn cuộc đời bằng tâm nhãn. Ba câu đầu của bài thơ mới là kể; câu thứ bốn mới vỡ òa ý tưởng, lênh láng cảm xúc. Hóa ra nhà thơ mù lưu lạc trong ngôi nhà mình, lưu lạc trong chính tâm hồn mình. Bóng tối cô anh đặc lại như thạch.
          Anh ngồi trong chính mình mà còn lạc, còn thấy vô biên, thấy hư vô, hư ảnh, hư hình…Tưởng là tĩnh mà động, tưởng mà ngồi mà bay, tưởng rằng một mà muôn; cái vi mô đã thành vĩ mô và ngược lại. Nguyễn Việt Anh không viết bằng mắt. Anh viết bằng hồn. Chừng như người đọc anh cũng cần phải có tâm nhãn mới nhìn ra trong bóng tối lục bát của anh cái lục căn, lục bình, lục lạc, lục tung, lục lọi của hư vô và nỗi chết.
Tôi yêu câu thơ thứ tư trong các bài lục bát bốn câu của Nguyễn Việt Anh. Trong bài “ Mấy khi”, nhà thơ mù kể ra chuyện anh được về quê, ra bờ sông hóng gió :
              
“ Mấy khi có dịp về quê
                Ra sông hóng gió thỏa thuê cả ngày
                Ta ngồi như một gốc cây
                Nghe trên da thịt trổ đầy tuổi thơ” ( trang 37)
              
Hóa ra, khi chúng ta ngồi lặng trên mặt đất, chúng ta cũng chỉ là một gốc cây. Nhưng là một gốc cây của Phật, của Chúa, của linh cảm thi sĩ tuyệt vời. “Nghe trên da thịt trổ đầy tuổi thơ” là một câu thơ có dấu hiệu thiên bẩm, người sáng mắt làm sao viết nổi ?
          Bạn ơi, bạn muốn thành một thi sĩ lớn, bạn hãy biến mình thành một cái cây của Nguyễn Việt Anh, cái cây trổ đầy tuổi thơ, tuổi của thiên đường xưa bé. Chao ôi là những cây người, xum xuê những thiên thần tí hon chồi biếc. Ai bảo nhà thơ mù không nhìn thấy gì ? Anh nhìn thấy cái sâu vô cùng của bản thể vũ trụ bằng cái nhìn thiên sứ !
Trong nhóm những bài thơ lục bát hai câu cuối sách, chúng tôi như mê đi khi tìm thấy    
câu này của thi sĩ Nguyễn Việt Anh :

               “ Thức mà đơn độc xanh tươi
               Chẳng thà mê sảng cùng người tàn phai”
( trang 68)
Có những “đơn độc xanh tươi” trên đời này đấy, thưa các bạn. Nhà thơ mù đã nhìn thấy những cô đơn xanh biếc. Trái đất chúng ta là một tinh cầu cô đơn xanh biếc trong vũ trụ xa xanh thăm thẳm khôn cùng. Về bản thể, tâm hồn chúng ta dù đang có tình yêu, có gia đình, hình như cũng chỉ là một tinh cầu “đơn độc xanh tươi” ?
Nguyễn Việt Anh từng có tuổi thơ và tuổi học trò sáng mắt. Năm anh mười lăm tuổi, nhà thơ bị căn bệnh lạ mang đi đôi mắt. Tuy vậy, đến tuổi trưởng thành, anh vẫn có vợ có con. Nhưng rồi cô vợ đã từ bỏ cha con anh mà đi mất vào cõi đời mù tăm, bỏ anh lại cho cây gậy dẫn đường. Nhà thơ rơi vào hai lần cô đơn. Con người càng cô đơn càng tỉnh táo.Cho nên thi sĩ mới mơ được mê sảng, được tàn phai cho thoát nỗi cô đơn. Hóa ra còn có những “tàn phai” hạnh phúc ? Xin được chia sẻ cảm giác tươi xanh trong héo úa của
Thi sĩ trong bài “Không đề 2”
               Đột nhiên phố xá lặng im
               Lòng ta cũng bất giác chìm lắng theo
               Gió lơ đãng thổi qua chiều
               Một vài héo úa ít nhiều tươi xanh”  (Trang 27)
Chúng ta có thể sống thiếu cơm, thiếu nước trong nhiều ngày. Nhưng chúng ta không thể thiếu dưỡng khí và hi vọng trong năm phút.Trong tuyệt vọng, thi sĩ tìm thấy hi vọng. Trong héo úa, nhà thơ khiếm thị tìm thấy tươi xanh. Anh thanh lọc lá vàng tìm ra chồi non. Câu thơ hay làm ta thẫn thờ buồn vui lẫn lộn mãi trong vu vơ, trong thông cảm và
Trong bối rôi : “Một vài héo úa ít nhiều tươi xanh”
Hãy xem Nguyễn Việt Anh nhìn mưa trong tâm hồn mình khi nghe tiếng mưa đêm ngoài
Song cửa :
               Mưa đem chợt đến chợt đi
               Khoảng sân trước cửa nghx gì mà rêu
               Ánh trăng hắt xuống đìu hiu
               Tự nhiên sờ sợ những điều chưa qua  Trang 6)
          Đêm với ngày với người thi sĩ mù cũng chỉ là bóng tối. Và mưa và ánh trăng cũng tối như vệt rêu trước sân, chỉ bàn chân anh cảm thấy. Câu thơ bâng khuâng lạ, cắc cớ lạ, sao mà lòng trai cũng tưởng đã xanh rêu : “Khoảng sân trước cửa nghĩ gì mà rêu” …
Cảm thương cái sân trước cửa buồn quá, cả nghĩ quá mà hóa rêu cho anh làm thơ. Mưa và rêu có nghĩ gì đâu. Chỉ hồn thơ anh cô đơn quá mà nghĩ ra cái điều trơn trượt ấy. Một thế giới tĩnh lặng và bất an với một người không còn đôi mắt, phải nhìn bằng tay, nhìn bằng chân và nhìn bằng thính giác của thời gian đang đến vây bủa anh trong buồn thương
Hũ nút : “Yuwj nhiên sờ sợ những điều chưa qua”
Anh, người thi sĩ mù nghi ngờ chính sự tồn tại của mình. Anh viết hay là cái bóng viết ? Cõi mung lung có có không không này đang ú tim anh hay anh đang chơi trò bịt mắt bắt   
Dê chính mình :
               Đôi lần thoáng hiện trong ta
               Thân hình buốt giá như là mùa đông
               Bồn chồn tay gối mông lung
               Đang còn mình đấy mà không thấy mình  (Trang 7)
Chàng thi sĩ như con ếch số phận đào bóng tối ra để trú đông hay bóng tối đang đào anh ra từng hố hầm ảo ảnh để neo vào thời gian, đặng nghi hoặc chính mình ? Ta có thực không ? Ánh sáng có thực không ? Tất cả chúng ta, hầu như vẫn thường tự hỏi mình như chàng thi sĩ chung thân bóng tối này tự hỏi : “Đang còn mình đấy mà không thấy mình” ! Chao ôi là cái chàng Hamlet của Shakespeare mắt nhìn sáng rực mà vẫn mang một tâm hồn mù, đã liên tực tự hỏi mình : “ To be or not to be” ( tồn tại hay không tồn tại)…
Khi chơi thuyền trên Hồ Tây, Việt Anh viết :
               Đền đài lầu gác nguy nga
               Chìm trong giấc mộng xa hoa đáy Hồ
               Hãy nhè nhẹ mái chèo khua
               Kẻo làm sống dậy  ngôi vua một thời  (Trang 11)
Chèo nhẹ thôi bạn ơi, để các triều vua dưới đáy hồ yên ngủ. Thi sĩ thương giấc nghìn năm lịch sử bị đánh thức. Đi nhẹ chân thôi các bạn ơi, kẻo ông cha nằm dưới đất mất ngủ ! Chừng như các triều vua, chừng như linh hồn ông cha không ngủ dưới hồ, không ngủ
Trong đât mà yên giấc trong hồn ta ?
Trùm lên những dòng thơ Nguyễn Việt Anh là nỗi cô đơn kiếp người; như thể chàng thi
Sĩ đi một mình, ngồi một mình trên bờ biển :
               Trăng lên biển đã vào khuya
               Cánh buồm khuất nẻo bên kia chân trời
               Sóng giờ cũng ngược ra khơi
               Bơ vơ hạt cát lặng ngồi hóa anh  (Trang 21)
Không phải anh hóa hạt cát mà ngược lại. Hạt cát ấy buồn vì biển đã lùi xa, đêm tĩnh lặng như biến mất. Hạt cát ấy cứ đùn dần, lớn dần thành một ngôi mộ, không, thành một con người bơ bơ giữa thế giới bơ vơ. “Rồi cát bụi sẽ trở về cát bụi” . Lời Kinh thánh như tiếng gió đang ro ro trong vỏ ốc biển. Con người, thương thay chính là một hạt cát ngồi ngóng biển cả mang mình đi. Đi đâu ? Đi vào thơ Nguyễn Việt Anh chứ biết còn đi đâu !
Chính vì vậy, thi sĩ mufcamr ơn hạt cát hư vooxoo dạt ta về cõi hữu hình :
               Bấy lâu ngọn sóng hư vô
               Rắp tâm tẩy xóa cuốn xô kiếp người
               Không ngờ hạt cát nhỏ nhoilaij đưa con sóng về nơi hữu hình  (Trang 25)
Khoa học bảo rằng : sự sống mấy tỉ năm trước đã xuất hiện trong biển khơi. Hình như hạt cát lẻ loi này đã tha sự sống lên mặt đất ? Nhà thơ, cũng như hạt cát xíu xiu kia hình như đã theo sóng tấp vào bờ hồn ta một thi hứng, một xúc động trong ngẩn ngơ lục bát vô bờ.
          Hãy chia sẻ nỗi đau của chàng thi sĩ trong đêm sâu như bình rượu :
              

“Đêm đau đêm tối âm thầm
Bóng đau bóng thức trầm ngâm với hình
Thơ đau thơ trút cạn tình
Gió đau gió thổi rỗng bình rượu tăm”
  (Trang 48)
          Tôi yêu câu thơ thứ tư này quá. Hóa ra khi đau, gió cũng giải sầu bằng rượu ? Thực ra, người đau đã uống hết bình rượu nhưng lại ngờ gió uống. Tại gió cả thôi ! Lại nhớ Trịnh Công Sơn : “ Để làm gì em biết không ? – Để gió cuốn đi”. Nhờ gió ấy, rượu ấy, mà có thi ca, có bài hát, có cơn say của gió thổi rỗng những bình đời, những bình rượu sủi tăm thi sĩ !
Hồi chàng thi sĩ mù bị vợ bỏ đi, nỗi buồn đã bày tiệc trên hồn anh, một nỗi cô đơn cụ thể, cô đơn đến tê tái cả câu lục bát rất thật này :
               “Dây phơi chẳng chiếc áo nào
               Mỗi khi gió động vẫn chao hai tà
               Em mang ấm cúng đi xa
               Hiu hiu hắt hắt ở nhà với tôi”  (Trang 49)

Chúng ta, hầu như rất ít ai bị vợ hoặc chồng bỏ đi giữa tuổi thanh xuân như Nguyễn Việt Anh; sao có khi giữa một gia đình tưởng hạnh phúc lắm, tưởng đông vui lắm, ta vẫn có cảm tưởng cái vĩnh hằng, cái may mắn, cái thiên đường trong mộng xưa đã bỏ ta mà đi; khiến ta thấy câu thơ thi sĩ mù không chỉ viết cho riêng anh, mà còn viết cho chúng ta câu thơ thật hay này nữa :
               “Em mang ấm cúng đi xa
               Hiu hiu hắt hắt ở nhà với tôi”…

Thưa các bạn yêu thơ, thế nào rồi cái “hiu hiu hắt hắt” trong thơ Nguyễn Việt Anh cũng sẽ tìm đến chúng ta, để xin ở chung nhà mãi mãi cùng ta dưới mái cỏ xanh mai hậu…Thơ ơi, hiu hiu hắt hắt ơi, chờ ta với .,.

                                                                                                            Trần Mạnh Hảo