12 thg 10, 2013

Gọi Người là Bác

http://sgtt.vn/Uploads/Images/b/21a/b21a6bd0744fa84d3f0561c5d82d71b9.jpg



Lệ thương tiếc lại rưng rưng kết giọt *
Tiễn anh linh một nhân cách tuyệt vời
Người đâu phải trên đỉnh cao chót vót
Mà cứ đằm sâu trong trái tim đời !

Gấm vóc địa linh hun  đúc thiên tài
Phía chiến bại vẫn ngỏ lòng tôn quý
Trung hiếu vẹn toàn bền gan nhẫn chí
Ung dung lòng dẫm đạp mọi chông gai .

Đôi mắt sáng tỏa hào quang bền bỉ
Sáng dịu dàng trong ấm lạnh lòng dân
Sáng rực rỡ như ngọn đèn thế kỷ
Sáng lung linh lặng lẽ giữa dòng ngân .

Người ở trăm năm người nhớ cõi về
Muốn tắm mát nước dòng trong Sông Kiến
Muốn hóng gió trùng khơi nơi Đảo Yến
Muốn chìm mình trong sâu nặng hồn quê

Xin thắp dâng Người một nén tâm nhang
Cùng triệu lòng tiễn đưa Người về cõi
Lắng đâu đây đau thương từng tiếng gọi
Không gọi tên Người , gọi Bác , Bác ơi !

 *   Đã một lần “ Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa ” !


 

10 thg 10, 2013

Nhàn đàm quanh một phiến thơ .

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhyP1D1ppzZ37iJ_EmHOiYtbfnFsSph8pyNYpX1Z_P_3QscOwpOma1SjWK2DbQGNYqYfTt3c92V4opq5OBdc0VBH-VwqsJoAS715ye7eFFjK1tlBP7VC3CbThOgK5wFRSWhC4UPbdCtWETz/s400/thung_nuoc_va_con_ech.jpg



          Những ai quan tâm đến thơ Haiku , dù là người đọc , sáng tác hoặc nghiên cứu , không thể không chú ý tới một phiến khúc cổ điển Nhật bản của thi hào Basho . Phiến thơ này có thể viết một dòng :
古池や蛙飛込む水の音  (furuike ya mizu no oto tobikomu kawazu )
Hay ba dòng :
古池や Furuikeya (Phư-rư-i-kê-ia)
蛙飛び込む Kawazu tobikomu (Ka-oa-dư-tô-bi-kô-mu)
水の音 Mizu no oto (Mi-dư-nô-ô-tô)
Đều dịch nghĩa là :
Ao cũ
Con ếch nhảy vào
Tiếng nước
          Đây đích thực là một bài thơ Haiku cổ điển mẫu mực . Có ngắt ý rất rõ ràng , ba ý là ba hình ảnh tách biệt không phải là một câu tách thành ba đoạn : Ao , con ếch và tiếng nước . Ba hình ảnh này phối ngẫu cho ta một ý tưởng viên mãn của một bài thơ mang tính thiền triết . Con ếch cõng theo hơi thở mùa xuân không  chỉ dừng ở vai trò quý ngữ mà nó làm sống dậy cái ao cũ vốn là tĩnh cảnh để tạo thành tiếng nước , thành sự sống thiên nhiên vĩnh hằng . Không cần đến tính từ hay một thứ trợ từ nào đưa đẩy mà khúc thơ cũng đủ sức nâng suy tư lên cùng không gian hoạt sinh , hiện hình dòng sống một cách hài hòa như vốn có . Con ếch nhỏ bé , cái ao bình thường sẵn đó và tiếng nước phát  ra  cấu thành hiện sinh trong trời đất . Chẳng thứ nào bị coi rẻ rúng , thật sự vô sai biệt ! Trước cảnh tượng  này , lòng người hẳn được buông xả nhẹ nhõm để mà sống , mà yêu thương .
           Bài thơ bay đến miền đất nào cũng được dịch ra ngôn ngữ quốc gia ấy . Nói riêng ở Việt nam , số bài dịch tính ra không dưới hàng chục . Xin được nêu một số bài tiêu biểu dịch qua nghĩa tiếng Nhật để tham khảo :

1.  Ao cũ
con ếch nhảy vào
vang tiếng nước xao
                                    Nhật Chiêu

2.  Ao cũ
ếch nhảy vào
tiếng nước
                                     Đinh Nhật Hạnh

3.  Con ếch
nhảy xuống ao tù
tiếng nước té
                                     Thái Bá Tân

 4.  Cái ao cũ im lìm
Một con ếch nhảy vào ao
Xao động, lại im lìm
                                           
                                     Phùng Hoài Ngọc

Và một vài bài dịch từ tiếng Anh của các dịch giả Châu Âu ( Đinh Nhật Hạnh dịch lại tiếng Việt ) :
Ancient pond
Frog jumps in
sound of the water
                                   
                                     Patrice Donegan

                                                            Ao cổ
ếch nhảy vào
                                                       tiếng nước
*
An old silent pond
a frog jumped into the pond
splash! Silence again
                                  
                                     Hardy Bond

Một cái ao cũ lặng im
con ếch (đã) nhảy vào trong đó
“Phọt”! Yên tĩnh trở lại
*
There is the silent old pond
a mirror of ancient palm
a frog – leaps – in splash
   
                                         Dion O’donold

Đây cái ao già nua yên tĩnh
mặt gương soi của gốc cọ cổ xưa
một con ếch – nhảy – nước tóe
*
There is the old pond!
Lo, into it jumps a frog
Hark, water’s music
            
                                        John Brian

Đây cái ao cũ!
nhìn kìa! Con ếch nhảy vào
nghe kìa! Khúc nhạc nước

          Đã được nghe ở đâu đó có người nói “ Dịch là diệt ” . Có thể là như vậy song điều này chỉ xẩy ra khi người dịch thẩm chuyển chưa tới tầm cần có . Ngoài hai yếu tố cần ấy , người dịch còn phải đủ cảmbay cùng nguyên tác . Người đọc thơ qua dịch thuật nhận chân được thơ của tác giả thông qua tài năng dịch giả . Một khi người dịch chuyển tải được hết nội dung , ý tưởng của bài thơ , không bớt sén hay thêm thắt đến nỗi méo mó nguyên tác thì dịch sao là diệt được . Xin nêu một câu thơ dịch vào bậc xưa nay hiếm để cùng thưởng thức . Trong tác phẩm Chinh phụ ngâm  , Đặng Trần Côn mở đầu bằng hai câu :


     
红题
( Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân )

Dịch nghĩa là :
Trời đất gió bụi
Má hồng nhiều truân truyên .

Và Đoàn Thị Điểm dịch thành thơ :
Thủa trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân truyên

          Thật không thể nào hơn được nữa . Nghĩa rất sát mà thơ rất thơ cứ như đôi cánh thiên thần ôm trọn cái chân lý hơi bị khô khan của nguyên tác mà bay . Ở đây Đoàn nữ sĩ chỉ thêm vào mấy chữ rất có hồn : Thủa , nổi cơn , khách và nỗi một cách hợp lý , tế nhị mà thành cái cặp bẩy của thơ song thất lục bát đẹp ý đẹp vần làm vậy đó !
           Khúc Haiku của Basho không có tiêu đề . Có người gọi nó là bài “ Con ếch ” , lại có người kêu là bài “ Ao cũ ” khi nói về nó . Thiết nghĩ cái tên thứ nhất phù hợp hơn bởi tuy đây là hai chủ thể bình đẳng song con ếch sống hơn , động hơn lại mang đặc trưng mùa xuân theo cách nghĩ người Nhật . Liệu có e rằng ai đó khi đọc tên này liên tưởng đến bài thơ “ Con cóc” trong dân gian Việt ? Điều này nếu có ta không thể bàn luận vì mỗi người có nhãn quan riêng trong cách nhìn thiên nhiên và xã hội . Xin thử đưa ra một cách dịch dựa vào phần dịch nghĩa từ tiếng Nhật sẵn có coi như một việc làm quá sức :

Ao xưa
Con ếch nhẩy vào
Tiếng nước xao

Tuy rằng “ xưa” và “ cũ” đều nói lên sự việc đã có từ trước nhưng với cái ao , “ xưa” có hồn và chiều sâu hơn , lại êm tai hơn bởi thanh bằng của nó . Với hình ảnh con ếch nhẩy vào , tuy “ con” không là số lượng từ nhưng dường như nó khảng định chỉ một con thôi , phù hợp với thi cảnh của bài thơ hơn . Với một con ếch nhẩy vào cái ao tĩnh lặng thì âm thanh phát ra không thể vang mà chỉ làm không gian xao động một chút , tiếng “ xao” ấy là xao lòng vậy !




6 thg 10, 2013

Bão

http://i1322.photobucket.com/albums/u563/voduytanofficial/5_zps5e961c76.jpg


Cơn bão từ đại dương
Cuồng phong cuồn cuộn xoáy
Giữa lòng dông tố ấy
Có khoảng trống yên lành

Cơn bão lửa chiến tranh
Đạn bom tuôn xối xả
Vẫn có miền yên ả
Chim cứ hót xanh trời

Cơn bão giữa cuộc đời
Trắng đen và trong đục
Thiên đàng và địa ngục
Vẫn sáng niềm ước mong

Cơn bão tự trong lòng
Biển đâu mà sóng dậy
Lửa đâu mà thiêu cháy
Trốn sao khỏi chính mình

3 thg 10, 2013

Tản mạn về bia

http://images.danviet.vn/Images/Uploaded/Share/2013/09/12/33f1292013-thegioi-beer.jpg


Lại một tình cờ đã đưa tới sự khám phá ra cách chế biến món nước “Tinh Thần”, uống cho tới tận cùng say xỉn này.
Truyền thuyết kể lại là cách đây trên mươi ngàn năm, một cô bé đang ăn miếng bánh mì khô uống với ly nước lạnh, thì có bạn gọi đi chơi trò nhẩy dây. Cô ta ném miếng bánh vào ly nước, để trên mặt bàn rồi chạy ra ngoài. Đó là miếng bánh cũ bỏ quên trong cặp sách đã lâu, có bám bụi xanh.
Mấy ngày sau bà mẹ dọn bàn thấy ly nước trong trong, có mùi thơm thơm. Đang khát nước, bà bèn uống. Một lúc sau cảm thấy trong người sảng khoái, lên tinh thần. Bà khoe với ông chồng và ngỏ ý muốn có thêm. Chiều vợ, ông chồng làm nước đó cho vợ và gia đình. Lối xóm bắt chước và thiên hạ cũng làm theo. Thế là Bia ra đời.
Anh ngữ gọi là Beer, Pháp ngữ là Biere từ chữ Latin “Bibere” nghĩa là Uống.
Người Việt ta phiên âm là LA DE từ chữ La Biere cho tiện việc sổ sách.
Tiếng Đúc Baere, từ chữ Barley là loại lúa mạch dùng nhiều nhất để làm la de.
Trung hoa gọi bia là Ty tửu vì có ít ethanol.
Theo các nhà khảo cổ, thì la de được dân chúng thành phố Babylon chế ra đầu tiên một cách khá quy mô, cách đây trên 6000 năm. Họ ngâm nước cho hạt lúa mạch lên mốc xanh, nghiền nát, trộn với nước, để dăm ngày rồi uống. Khi đó, la de rất được dân chúng ưa thích, mà khả năng biến chế giới hạn nên các Lãnh Chúa bèn đặt chế độ khẩu phần. Dân lao động chỉ được mỗi ngày hai lít, công nhân viên nhà nước ba lít, quan chức cao cấp và quý ngài tu sĩ năm lít.
Từ Ai Cập, la de lan tràn ra các nước khác và được phổ thông trước khi nho được trồng làm rượu vang, vào thời kỳ đế quốc La Mã. Con dân đế quốc coi la de như thứ nước uống của người man di, còn họ uống thứ nước dành cho Thần Linh, ấy là rượu vang.
Cũng nên nhắc là việc nấu la de, theo luật đời xưa, là việc làm của nữ giới. Đến sau Thiên Chúa giáng sinh thì la de được đưa vào thị trường thương mại, ai mua cũng được.
Chuyện này cũng có lý do. Vì đã có một thời kỳ, làm la de được các tu viện hầu như dành quyền ưu tiên chế biến và là nguồn lợi tức đáng kể cho cơ sở tôn giáo. Ngoài lợi tức, các tu sĩ còn muốn tự do dùng la de chung với thực phẩm ngon mà họ được cung cấp. Đồng thời la de không bị cấm trong thời gian ăn chay, nên các ngài tự do dùng và mỗi tu sĩ được chia tới 5 lít một ngày.
Chỉ sau thời kỳ Cải Cách giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã, đưa đến sự thành lập các giáo hội Tin Lành vào thế kỷ 16, sự ưu đãi độc quyền làm bia này cho tu viện mới được bãi bỏ. Bia được các nhà sản xuất thương mại trách nhiệm.
Nhưng phải công nhận là nhờ kiến thức của các tu sĩ mà kỹ nghệ làm bia tiến bộ rất nhiều, từ việc một miếng bánh rơi vào ly nước tới những máy móc, tuy thô sơ, nhưng mau lẹ, làm được nhiều lại an toàn vệ sinh, có phẩm chất ngon hơn.
Kỹ nghệ sản xuất bia thực sự cải thiện vào đầu thế kỷ thứ 19 với sự sáng chế ra máy hơi của James Watt và hệ thống làm lạnh của Carl von Linde. Trước đó, bia thường được làm vào mùa Đông, thuận tiện cho sự lên men của bánh. Từ khi khám phá ra hệ thống làm lạnh, bia được sản xuất quanh năm. Đầu máy hơi nước của James Watt giúp sự sản xuất bia từng loạt với số lượng nhiều hơn.
Trong việc làm bia, nhà bác học Pháp Louis Pasteur cũng cống hiến một khám phá quan trọng: Đó là sự tìm ra những nấm lên men mà ông đã trình bày trong nghiên cứu tựa đề “ Etude de la Bierre”, vào năm 1876. Nhờ khám phá này mà ngày nay ta đã nuôi được men và dùng rộng rãi trong kỹ nghệ làm bia và rượu vang.
Một khoa học gia khác người Đan Mạch, Christian Hansen, đã thành công trong việc tách một thứ nấm, trồng trong dung môi dinh dưỡng và dùng hàng loạt vào việc lên men lúa mạch để làm bia.
Làm bia.
Muốn có một lon bia, ta cần bốn vật liệu chính yếu: Nước, ngũ cốc, men và cây Hoa Bia (Hop= Houblon).
a-Ngũ cốc
Bia có thể được làm từ gạo (Việt Nam,Trung Hoa Nhật Bản), ngô (Thổ dân American Indian), mì ( Đức wheat), lúa mạch đen ( Nga, ryes) yến mạch ( Oats) nhưng thông thường nhất vẫn là bằng hạt lúa mạch ( Barley) rồi đến lúa mì. Ngô và gạo cho loại bia kém phẩm chất.
Lúa mạch có nguồn gốc từ Châu Á và Ethiopia và là loại ngũ cốc được sản xuất đứng hàng thứ tư sau lúa mì, gạo và ngô. Lúa mạch có lượng carbohydrates khá cao, tới 67% và 13% chất đạm.
Trước hết, mạch được ngâm trong nước độ một tuần cho nẩy mầm đồng thời tinh bột của mạch được chuyển hóa thành đường maltose. Sau đó mạch có mầm được đun chín rồi sấy khô, say khỏi vỏ rồi ngâm trong nước nóng. Đường trong mạch sẽ hòa vào nước cho một dung dịch có vị ngọt.
Dung dịch này được đun sôi khoảng hai giờ để diệt hết vi khuẩn. Đây là lúc mà Hoa Bia được thêm vào để tạo ra vị đắng cho bia.
b-Hoa bia
Houblon là loại cây leo có hoa mọc thành từng chùm. Hoa được sấy khô để tạo vị đắng cho bia. Đun càng lâu thì chất đắng của hoa bia càng tan nhiều trong nước, bia sẽ đắng hơn.
Nghiên cứu ở Mỹ cho biết cây Hoa Bia có chất chống oxy hóa Antioxidant Prenylated Flavonoids rất tốt để giúp cơ thể giảm nguy cơ bị các bệnh tim, ung thư, sa sút trí tuệ và cao cholesterol.
Dung dịch được để nguội, vớt hết lá hoa bia và cặn bã ra rồi men được thêm vào
c-Men
Men bia là những nấm nhỏ li ti có khả năng chuyển đổi tinh bột ra đường. Nấm có nhiều trong thiên nhiên.
Hai loại men thường dùng trong kỹ nghệ bia là Sacchromyces cerevisiae nổi lên mặt dung dịch và loại Saccharomyces uvarum, chìm dưới đáy. Mươi ngày sau men sẽ chuyển hóa hầu hết đường maltose và lúc đó ta đã có một lon bia. Nhưng chưa đủ, muốn có hơi sủi bọt, bia được chuyển vào một bình điều hòa để lên men lần thứ hai và có hơi carbonates.Vì còn vẩn đục, nên bia được lọc. Bia vô lon hoặc chai được đun nóng ( Pasteurized) để diệt hết các vi khuẩn còn sót và để chặn sự lên men. Draft bia không đun nóng nhưng phải giữ ở nhiệt độ lạnh cho tới khi dùng để bia thôi lên men. Uống ngay sau khi sản xuất, Draft bia ngon hơn vì trong khi chuyên trở đi xa, sự thay đổi nhiệt chung quanh ảnh hưởng tới phẩm chất của bia.
đ-Nước
Nước dùng để làm bia cũng rất quan trọng. Nước có nhiều khoáng chất thì bia đắng hơn là nước có ít khoáng chất.
Beer cũng như rượu vang có từ 2-6% Ethanol trong khi đó rượu mạnh như wisky, gin, vodka có tới 45-50% ethanol.
Một vài loại bia
Như đã nói ở trên, bia có thể làm từ lúa mì, ngô, gạo nhưng lúa mạch thường được dùng nhiếu nhất.
Ngay cả làm từ lúa mạch, bia cũng có nhiều loại tùy theo men nổi hay chìm, nhiệt độ và thời gian để mạch lên men, số lượng Hoa bia, thời gian và nhiệt độ nơi cất giữ bia. Theo luật, bia không được có quá 5% chất rượu ethanol.
-Ale nặng hơn beer và dùng men nổi mà beer thì dùng men chìm dưới đáy.
-Bitter là la de có nhiều Hoa bia nên đắng hơn và được dân Anh rất thích.
-Lager cũng là la de nhẹ, mầu lạt, rất phổ thông bên Đức.
-Malt liquor mạnh hơn beer.
-Shandy là hỗn hợp beer với nước chanh (lemonade) hoặc ginger beer)
-Sake của Nhật được chế từ gạo, có nồng độ ethanol từ 14-%, nên thường được gọi là rượu gạo rice wine. Nhưng thực ra sake là một loại beer vì cũng được làm bằng sự lên men của gạo. Sake không có mầu, không có hơi, hâm nóng uống ngon hơn, trong khi đó beer phải uống lạnh mới đã.
Dinh dưỡng
Về phương diện ăn uống, ngoài nước, bia có một số lượng các chất dinh dưỡng rất khiêm nhường vì đa số đã bị tiêu hủy trong quá trình chế biến.
Một ly 360 cc (12 Oz) cho 140 calories mà 60% là do chất rượu ethyl alcohol của bia; 17mg calcium; 28mg magnesium; 40mg phosphore; 85mg potassium; rất ít Zinc, sinh tố B.
Các chất đạm, chất béo, sinh tố C và sinh tố hòa tan trong chất béo đều có rất ít nên bia được nhiều người coi như chẳng bổ dưỡng gì ngoài một số calories. Chẳng thế mà bác sĩ David Williams của đại học Wales, Anh Quốc đã cổ võ là trong chương trình giảm béo, nên uống nửa lít bia một ngày vì bia có tới 93% là nước lã, không đường, không chất béo.
Bia còn giữ hương vị thơm ngon nếu tiêu thụ trong vòng hai tháng sau khi làm, do đó không nên mua tích trữ quá nhiều và quá lâu. Cất bia ở chỗ mát, không có ánh nắng mặt trời để bia khỏi lên mùi.
Ly để uống bia cần sạch, không vết mỡ vì mỡ làm bia hết bọt.
Cũng không nên uống bia quá lạnh vì nhiệt độ thấp làm giảm mùi thơm của bia.
Bia với Sức Khỏe
Trang báo Forbes ngày 17 tháng 3 năm 2008, tác giả Allison Van Dusen có nêu ra 8 lý do lành mạnh để uống bia, căn cứ vào một số nghiên cứu khoa học. Đó là từ 30-35% ít bị heart attack, tăng chất béo lành HDL, giảm rủi ro máu cục, giảm hóa già, bảo vệ khỏi tử vong vì bệnh tim mạch, tăng trí tuệ giảm Alzheimer, giúp xương chắc mạnh, giảm biến chứng tiểu đưởng.
Nhưng Allison nhấn mạnh ở chữ vứa phải moderation. Vừa phải là 240 cc, ngày hai lần, quý bà thỉ chỉ ½ mà thôi.
Lưu ý là uống bia mãn ngày mãn tháng, lon trước rước lon sau thì hậu quả tai hại cũng nhiều. Chẳng hạn như trở thành bét nhè nghiện rượu, xơ cúng ung thư gan, ung thư miệng…Ấy là chưa kế phá rối an ninh trật tự công công khi say xỉn, gây gổ hận thù, than chủ thường xuyên của khám nhỏ khám lớn. Ngoài ra, có nghiên cứu cho là uống vài ly bia/ngày có thể tăng rủi ro ung như nhũ hoa nữ giới.
Thành ra bia không phài là tốt cho mọi người.
Như giáo sư Charlie Bamforth, Đại học California ở Davis, nhắc nhở là không nên coi bia như một dược phẩm. Uống bia vì ý thích nhưng vừa phải là điều cần nhớ.